KHI XỬ LÝ YÊU CẦU HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT, TÒA ÁN CÓ THỂ QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN QUAN HỆ HÔN NHÂN ĐÓ NẾU THẤY HAU BÊN ĐÃ CÓ ĐỦ ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN KHÔNG?

Kết hôn là việc nam, nữ xác lập mối quan hệ vợ chồng dựa trên việc đáp ứng đủ điều kiện kết hôn và thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên khi nam, nữ đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng lại không đảm bảo được điều kiện để kết hôn với nhau, thì việc kết hôn này được xem là kết hôn trái pháp luật (khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Tòa án có thẩm quyền là cơ quan thực hiện xử lý việc kết hôn trái pháp luật này.

Khoản 2, Điều 11, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.”

Theo khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 1/2016 của TAND Tối cao -VKSND Tối cao – Bộ Tư pháp, trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì tòa án xử lý như sau:

  • Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì tòa án ra quyết định công nhận.
  • Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, hoặc có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu, thì tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.
  • Trường hợp hai bên cùng yêu cầu tòa án cho ly hôn; hoặc có một bên yêu cầu ly hôn, còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, thì tòa án giải quyết cho ly hôn.

Căn cứ vào các quy định trên, thì tùy thuộc vào yêu cầu, nguyện vọng của các bên tòa án sẽ xem xét, quyết định công nhận quan hệ hôn nhân, hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc giải quyết cho ly hôn. Trong đó, chỉ có trường hợp hai bên kết hôn cùng yêu cầu tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì tòa mới công nhận quan hệ hôn nhân đó.

Một số ví dụ về trường hợp trên:

  • Ví dụ 1: Anh A sinh ngày 25-01-1996, chị B sinh ngày 10-01-1995. Ngày 08-01-2015, anh A và chị B đăng ký kết hôn. Ngày 25-9-2016, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật vì tại thời điểm kết hôn, anh A và chị B đều không đáp ứng về độ tuổi kết hôn. Tại phiên họp, anh A và chị B đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, nếu xét thấy đã đủ các điều kiện kết hôn khác thì Tòa án xem xét công nhận quan hệ hôn nhân của anh A và chị B kể từ thời điểm cả anh A và chị B đủ tuổi kết hôn, tức là kể từ ngày 25-01-2016.
  • Ví dụ 2: Anh A và chị B đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 05-7-2009 và chưa ly hôn. Ngày 10-5-2012, anh A lại kết hôn với chị C. Ngày 12-6-2014, chị B chết. Ngày 15-5-2015, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh A và chị C. Với nguyên nhân là tại thời điểm anh A kết hôn với chị C, anh A là người đang có vợ là chị B nên đã vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Tại phiên họp, anh A và chị C đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, nếu xét thấy đã đủ các điều kiện kết hôn khác thì Tòa án xem xét công nhận quan hệ hôn nhân của anh A và chị C kể từ thời điểm chị B chết, tức là ngày 12-6-2014.
  • Ví dụ 3: Ngày 27-5-2009, chị A bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 30-9-2009, chị A kết hôn với anh B. Ngày 12-8-2012, Tòa án quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố chị A mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 12-02-2015, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật vì tại thời điểm kết hôn giữa chị A và anh B, chị A là người bị mất năng lực hành vi dân sự, vì vậy đã vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Tại phiên họp, chị A và anh B đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, nếu xét thấy đã đủ các điều kiện kết hôn khác thì Tòa án xem xét công nhận quan hệ hôn nhân của chị A và anh B kể từ thời điểm chị A không còn bị mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

PHÁP LUẬT TOÀN DÂN _ TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ
Hotline/zalo:
0909 36 47 49
Địa chỉ trụ sở chính: 47-49 Lam Sơn, P.2, Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh.
Văn phòng đại diện: 9D6 đường DN3, KDC An Sương, P. Tân Hưng Thuận, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh.
Website:
phapluattoandan.com
Mail:
info@phapluattoandan.com

 

0 0 votes
Article Rating