THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

Mỗi cá nhân có quyền lập di chúc để lại tài sản của mình cho những người mà mình mong muốn. Việc quyết định này dựa vào ý chí của người lập di chúc. Như vậy đảm bảo được quyền định đoạt tài sản của người chủ sở hữu đối với tài sản đó. Tuy nhiên, không phải mọi cá nhân đều lập di chúc để lại di sản của mình, có những sự kiện bất ngờ xảy ra khiến những cá nhân này không kịp lập di chúc hoặc không muốn lập di chúc. Pháp luật quy định trong trường hợp này, sau khi cá nhân này chết đi mà không để lại di chúc thì phần tài sản của người này được chia theo quy định của pháp luật.

Việc phân chia di sản theo pháp luật không đơn thuần xảy ra khi người để lại di sản không lập di chúc. Bên cạnh đó còn những trường hợp khác sẽ được pháp luật phân chia di sản như: Di chúc không hợp pháp; những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, cơ quan tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế (di chúc bị vô hiệu); những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản; phần di sản không được định đoạt trong di chúc; phần di sản liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực pháp luật; phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế (Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015)

Không như việc phân chia di sản theo di chúc, pháp luật không thể để lại phần di sản của người này cho một người không thân thích, không có mối quan hệ với người để lại di chúc hay một cơ quan, tổ chức. Mà theo đó, pháp luật quy định phần di sản của người đã mất sẽ được để lại cho người thân thích và có quan hệ máu mủ với người đã mất theo thứ tự ưu tiên. Việc quy định như vậy là tôn trọng các quyền của người đã mất và những người thân thích của họ.

Pháp luật quy định cụ thể về việc thừa kế theo pháp luật tại Chương XXIII Bộ luật dân sự 2015. Thừa kế theo pháp luật được hiểu là “thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự và được chia làm ba hàng thừa kế:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

  1. b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
  2. c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.”

Các hàng thừa kế được chia dựa vào mức độ thân thiết, gần gũi nhất của những người có quan hệ máu mủ với người đã mất. Nguyên tắc phân chia di sản thừa kế là những người trong cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không có ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Nếu trong trường hợp, con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. Pháp luật gọi đây là thừa kế thế vị. Nếu trong gia đình có các thành viên là con riêng và bố dượng, mẹ kế thì những người này nếu có sự chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì sẽ được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản như quy định về việc thừa kế di sản của con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi.

Thực tế xảy ra nhiều trường hợp khiến nhiều người không phân định được những cá nhân nào đó có được quyền hưởng di sản để lại hay không. Như việc hai vợ chồng ly hôn với nhau, pháp luật quy định tại thời điểm mở thừa kế mà vẫn chưa có bản án hay quyết định ly hôn có hiệu lực của Tòa án thì người còn sống vẫn được hưởng di sản, dù đã hoàn tất xong thủ tục ly hôn đi chăng nữa. Hoặc khi hai vợ chồng sống chung với nhau, đã thỏa thuận quyết định phân chia tài sản chung của vợ chồng, nhưng khi một trong hai người chết và pháp luật phân chia di sản của người này, nếu tài sản vẫn còn tồn tại thì người kia vẫn được hưởng di sản. Vì mặc dù tài sản chung đã được chia trước đó, nhưng quan hệ hôn nhân vẫn còn tồn tại.

Một số trường hợp cần lưu ý khi phân phân chia di sản thừa kế theo pháp luật: nếu có người thừa kế cùng hàng được hưởng di sản đã thành thai thì phải dành lại 01 phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng, nếu chết trước khi sinh ra thì người thừa kế khác được hưởng và khi di sản đã được chia mà xuất hiện người thừa kế mới thì sẽ không chia lại di sản, nhưng những người thừa kế đã được chia phải thanh toán cho người thừa kế mới khoản tiền tương ứng với phần di sản được nhận tại thời điểm mở thừa kế.

Để nhận thừa kế di sản theo pháp luật, người được hưởng phải thực hiện thủ tục công chứng một trong hai văn bản là Văn bản thoả thuận phân chia di sản hoặc Văn bản khai nhận di sản thừa kế (được quy định tại Điều 57, Điều 58 Luật Công chứng 2014).

Dù trong trường hợp nào thì việc hiểu rõ các quy định về thừa kế là rất cần thiết, kể cả thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Nhằm để biết và hiểu hơn về những quyền lợi, nghĩa vụ của mình đối với di sản thừa kế cũng như bảo vệ những quyền lợi đó.

 

PHÁP LUẬT TOÀN DÂN _ TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ

Hotline/zalo: 0909 36 47 49

Địa chỉ trụ sở chính: 47-49 Lam Sơn, P.2, Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh.

Văn phòng đại diện: 9D6 đường DN3, KDC An Sương, P. Tân Hưng Thuận, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh.

Website: phapluattoandan.com

Mail: info@phapluattoandan.com

0 0 votes
Article Rating