Có được thế chấp nhà nhưng không thế chấp đất không?

Không ít trường hợp người sử dụng đất muốn thế chấp căn nhà nhưng không muốn thế chấp quyền sử dụng đất. Vậy có được thế chấp nhà nhưng không thế chấp đất không? Và trường hợp chỉ thế chấp nhà mà không thế chấp đất, khi không có khả năng chi trả thì đất có bị ngân hàng mang ra phát mãi không? Mời Quý bạn đọc theo dõi bài viết sau để hiểu rõ hơn về vấn đề này.

1. Thế chấp nhà ở là gì?

Thế chấp nhà ở là một trong những quyền của chủ sở hữu được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 10 Luật Nhà ở năm 2014, theo đó chủ sở hữu có quyền “Bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở; trường hợp tặng cho, để thừa kế nhà ở cho các đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì các đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó”.

2. Có được thế chấp nhà nhưng không thế chấp đất không?

Khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự hiện hành quy định thế chấp tài sản là việc một bên (bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (bên nhận thế chấp).

Theo đó, tại Điều 326 Bộ luật Dân sự hiện hành quy định về việc thế tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất như sau:

1. Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đồng thời là người sử dụng đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng thời là người sử dụng đất thì khi xử lý tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên, pháp luật dân sự công nhận việc chỉ thế chấp nhà mà không thế chấp đồng thời quyền sử dụng đất. Khi đó sẽ phát sinh 02 trường hợp:

– Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đồng thời là người sử dụng đất;

– Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng thời là người sử dụng đất.

3. Xử lý tài sản khi thế chấp nhà mà không thế chấp đất thế nào?

Cũng theo quy định tại Điều 326 Bộ luật Dân sự hiện hành, việc xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp thế chấp nhà nhưng không thế chấp đất được xử lý như sau:

– Trường hợp chỉ thế chấp nhà mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đồng thời là người sử dụng đất:

Tài sản được xử lý bao gồm cả quyền sử dụng đất và nhà, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

– Trường hợp chỉ thế chấp nhà mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở nhà không đồng thời là người sử dụng đất:

Khi xử lý tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển quyền sở nhà được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà được chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Ngoài ra, trong trường hợp không có thỏa thuận gì khác, nếu không có khả năng chi trả, ngân hàng có thể sẽ thực hiện phát mãi cả tài sản gắn liền với đất và quyền sử dụng đất.

4. Điều kiện để thế chấp nhà thế nào?

Theo khoản 1 Điều 118 Luật Nhà ở năm 2014, giao dịch về thế chấp bằng nhà ở thì nhà ở phải có đủ điều kiện sau đây:

– Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai, nhà tình nghĩ,…

– Không thuộc diện đang có tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về quyền sở hữu;

– Đang trong thời hạn sở hữu nhà ở đối với trường hợp sở hữu nhà ở có thời hạn;

– Không bị kê biên để thi hành án hoặc không bị kê biên để chấp hành quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật;

– Không thuộc diện đã có quyết định thu hồi đất, có thông báo giải tỏa, phá dỡ nhà ở.

Ngoài điều kiện đối với nhà ở thế chấp, bên thế chấp còn phải đáp ứng các điều kiện sau (theo khoản 1 Điều 119 Luật Nhà ở 2014):

“ Điều 119. Điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhà ở

1. Bên bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại, tặng cho, đổi, để thừa kế, thế chấp, góp vốn, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở phải có điều kiện sau đây:

a) Là chủ sở hữu nhà ở hoặc người được chủ sở hữu cho phép, ủy quyền để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật này và pháp luật về dân sự; trường hợp chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải là người đã mua nhà ở của chủ đầu tư hoặc người đã nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở;

b) Nếu là cá nhân thì phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự; nếu là tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân, trừ trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương.”

0 0 votes
Article Rating