Tài sản chung của vợ chồng được xác định như thế nào?

Hỏi: Tôi kết hôn năm 1996. Đến năm 2000, bố mẹ vợ có cho gia đình một mảnh đất, chỉ ghi là tặng cho vợ tôi. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình. Vậy mảnh đất đó là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ tôi ạ? Khi tiến hành trích lục hồ sơ liên quan đến mảnh đất thì trong bảng kê khai có xác nhận của phòng TNMT chỉ ghi là tài sản của ông X tặng cho con ruột là bà A. Như vậy có ảnh hưởng gì không ạ?

Pháp Luật Toàn Dân trả lời:

Chào anh, nếu như Giấy chúng nhận Quyền sử dụng đất ghi nhận là cấp cho hộ gia đình bà A (hộ gia đình ông B) thì về nguyên tắc đây là tài sản chung của cả hộ – của các thành viên có mặt trong hộ (hộ khẩu) tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận.
Còn nếu trong trường hợp xảy ra ly hôn thì khi này người vợ có thể chứng minh rằng đây là tài sản của mình dựa theo nguồn gốc tài sản – cha mẹ vợ cho riêng người vợ – từ đó yêu cầu phân chia phần nhiều hơn.

Luật Hôn nhân và Gia Đình 2014 quy định:
“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung
1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.”

Còn về bảng kê khai như anh nêu thì nó có giá trị giúp xác định nguồn gốc đất – khi có tranh chấp; còn hiện tại việc sử dụng mảnh đất này vẫn bình thường thì không có vấn đề gì, mảnh đất này vẫn là QSDĐ của cả hộ gia đình.

Thông tin đến anh,