Đi tù rồi có phải bồi thường thiệt hại không? Không có tiền bồi thường thì sao?

Người bị tuyên án tử hình sẽ bị tước đoạt đi mạng sống của mình, đây được xem là mức hình phạt nặng nhất đối với người phạm tội, dù vậy không ít các bản án, người phạm tội còn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường dân sự. Vậy người bị tử hình có thực hiện bồi thường thiệt hại hay không? . Trong bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về vấn đề này.

1. Bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự là gì?

Trước tiên cần hiểu rõ nghĩa vụ bồi thường trong vụ án hình sự là gì? Theo đó có thể hiểu bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự là trách nhiệm dân sự được giải quyết trong vụ án hình sự nhằm buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại.

Căn cứ theo Chương XX Trách nhiệm bồi tường thiệt hại ngoài hợp đồng thì phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự hiện hành như sau:

“ Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Đồng thời, tại khoản 1, điểm g khoản 2 Điều 62. Bị hại theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 các đối tượng sau được yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự:

– Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.

– Bị hại có quyền đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường.

Ngoài ra, tại khoản 1, điểm g khoản 2 Điều 63. Nguyên đơn dân sự của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cũng quy định:

– Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.

– Nguyên đơn dân sự có quyền đề nghị mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường.

2. Đi tù rồi có phải bồi thường thiệt hại không?

Như đã trình bày ở phần trên và căn cứ theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bồi thường dân sự có thể được giải quyết cùng với quá trình giải quyết vụ án hình sự hoặc cũng có thể được tách ra thành một vụ án riêng.

“ Điều 30. Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thê tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Do đó, đi tù và bồi thường thiệt hại là hai trách nhiệm riêng biệt của người phạm tội trong vụ án hình sự, bởi vậy dù có đi tù thì người phạm tội vẫn phải chịu bồi thường thiệt hại (nếu có). Trong đó, nguyên tắc để yêu cầu bồi thường thiệt hại được thực hiện theo Điều 585 của Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

” Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại.

1.Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thảo thuận bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương tức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp luật quy định khác.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường

4 Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra

5 Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình

3. Bị cáo không có tiền bồi thường thiệt hại, phải làm sao?

Trong trường hợp bị cáo không có khả năng bồi thường thiệt hại, trước tiên có thể xác minh xem bị cáo có thuộc trường hợp được miễn bồi thường thiệt hại hay không (trường hợp được miễn gồm gây thiệt hại do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại).

Nếu không thuộc trường hợp được miễn bồi thường thiệt hại, khi đó theo khoản 17 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi 2014, cơ quan thi hành án sẽ thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án. Nội dung xác minh nhằm xem xét bị cáo có tài sản nào khác hay không hay có nguồn công việc nào để tạo ra thu nhập hay không.

Sau khi xác minh, nếu cơ quan thi hành án nhận thấy bị cáo còn tài sản khác và bị cáo không tự nguyện thực hiện bồi thường thì căn cứ Điều 71 Luật Thi hành án dân sự 2008, cơ quan thi hành án có thể áp dụng một trong số các biện pháp cưỡng chế sau đây đối với bị cáo:

“ Điều 71. Biện pháp cưỡng chế thi hành án

1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.

2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.

3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.

4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.

5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.

6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.

Trong trường hợp bị cáo không còn tài sản nào khác, cũng không thể khai thác được tài sản của bị cáo thì căn cứ khoản 17 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi 2014, chấp hành viên sẽ thực hiện:

“ Điều 44. Xác định điều kiện thi hành án

2. Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần. Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.
… ”

0 0 votes
Article Rating