ỦY THÁC TƯ PHÁP CỦA VIỆT NAM VỀ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Trong vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, chúng ta thường nghe Tòa án nhắc đến cụm từ “Ủy thác tư pháp”. Tuy nhiên không phải trong mọi vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đều bắt buộc phải Ủy thác tư pháp; Mà trong một số trường hợp cụ thể, pháp luât quy định việc phải Ủy thác tư pháp. Ủy thác tư pháp gồm có Uỷ thác tư pháp của nước ngoài và Ủy thác tư pháp của Việt Nam trong lĩnh vực hình sự và dân sự; Bài viết dưới đây chỉ trình bày một khía cạnh Ủy thác tư pháp của Việt Nam về dân sự có yếu tố nước ngoài.

Khoản 1 Điều 6 Luật Tương trợ tư pháp 2007, định nghĩa: “Ủy thác tư pháp là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”;

Và tại khoản 1 Điều 3 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC nêu cụ thể “Ủy thác tư pháp của Việt Nam là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự”.

Như vậy, theo các khái niệm này thì Ủy thác tư pháp của Việt Nam về dân sự được xem như là một việc làm của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam để thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp, Ủy thác tư pháp của Việt Nam về dân sự là cầu nối để Việt Nam và các nước có thể hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động tư pháp.

Đất nước ngày càng phát triển, việc giao lưu về các nền văn hóa và việc hợp tác trong kinh doanh giữa cá nhân, tổ chức Viêt Nam với cá nhân, tổ chức của các quốc gia khác trên thế giới (sau đây gọi là cá nhân, tổ chức nước ngoài) ngày càng được mở rộng hơn; kéo theo đó là yêu cầu và tranh chấp phát sinh khi giữa hai bên Việt Nam và Nước ngoài không đạt được thỏa thuận với nhau. Điều đó dẫn đến việc cá nhân, tổ chức Việt Nam nộp đơn yêu cầu hoặc đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền tại Việt Nam để yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề phát sinh giữa cá nhân, tổ chức Việt Nam đó với cá nhân, tổ chức nước ngoài; sau đây gọi chung là vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên đây chỉ là một trong những trường hợp được xem là vụ việc có yếu tố nước ngoài, tại khoản 2 Điều 464 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định cụ thể Vụ việc dân sự được coi là có yếu tố nước ngoài nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • “Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài;
  • Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
  • Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài”.

 

Căn cứ vào các quy định khác nhau của pháp luật thì thông thường những vụ việc dân sự phải tiến hành ủy thác tư pháp là những Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Điều 13 Luật tương trợ tư pháp 2007, quy định cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp trong các trường hợp sau đây:

  • Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu cho người đang ở nước được yêu cầu;
  • Triệu tập người làm chứng, người giám định đang ở nước được yêu cầu;
  • Thu thập, cung cấp chứng cứ ở nước được yêu cầu để giải quyết vụ việc dân sự tại Việt Nam;
  • Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật Việt Nam. 

Từ quy đinh nêu trên, trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Tòa án Việt Nam có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự khi cần tiến hành một số hoạt động tố tụng dân sự tại nước ngoài. Dựa vào đây, các cá nhân hoặc tổ chức có thể nhận biết được vụ việc của mình có thuộc trường hợp cần Ủy thác tư pháp hay không.

Việc xác định Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là những vụ việc thuộc trường hợp phải thực hiện việc Ủy thác tư pháp chỉ mang tính tương đối, vì không phải Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nào Tòa án cũng phải tiến hành ủy thác tư pháp. Có những vụ việc dân sự khi xảy ra và đã được thụ lý giải quyết không có yếu tố nước ngoài, nhưng trong quá trình giải quyết của Tòa án thì đương sự ra nước ngoài dẫn đến Tòa án phải thực hiện việc Ủy thác tư pháp; Hoặc là trong trường hợp Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nhưng cá nhân, tổ chức nước ngoài đó vẫn đang tạm trú, lao động, làm việc và hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể mà mình đang giải quyết để xác định xem có cần tiến hành hoạt động tố tụng ở nước ngoài hay không, từ đó xác định việc có phải tiến hành việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài hay không.

Thời gian Ủy thác tư pháp tùy thuộc vào từng vụ việc cụ thể và thời hạn giải quyết của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Ngoài ra, đương sự là người yêu cầu trong vụ việc dân sự cần thực hiện ủy thác tư pháp phải đóng phí ủy thác cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.