DI CHÚC NHƯ THẾ NÀO MỚI ĐƯỢC XEM LÀ HỢP PHÁP?

Mỗi người đều có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chính mình. Vì vậy, việc quyết định tài sản của mình sẽ được để lại cho ai trước khi mất thông thường người để lại tài sản sẽ thực hiện việc lập di chúc, có thể người để lại tài sản muốn quyết định người xứng đáng được hưởng tài sản, để tài sản đó được quản lý và sử dụng theo đúng ý chí và nguyện vọng của mình. Vấn đề lập di chúc được nhiều người quan tâm, bởi không phải bất kì bản di chúc nào được lập ra và ký tên của người lập di chúc đều hợp pháp. Để tránh tình trạng di chúc đã được lập nhưng đến khi mở thừa kế, bản di chúc này được xác định là không hợp lệ, tại Chương XXII Bộ luật dân sự 2015 pháp luật quy định cụ thể như sau:

Điều 624 Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

Từ định nghĩa trên cho thấy, điều kiện đầu tiên để di chúc được hợp pháp là người lập di chúc phải là cá nhân. Như vậy, nếu người lập di chúc là tổ chức thì di chúc đó không hợp pháp. Bên cạnh đó, cá nhân là người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị ai lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép.

Điều kiện thứ hai để di chúc được hợp pháp, thì tài sản để lại tại thời điểm lập di chúc phải là tài sản có thật và thuộc quyền sở hữu của người lập di chúc; Đồng thời tại thời điểm mở thừa kế, tài sản được lập trong di chúc vẫn còn và vẫn thuộc quyền sở hữu của cá nhân để lại tài sản (hay còn gọi là người đã lập di chúc). Tài sản được dùng để lập trong di chúc được chứng minh dưới hình thức văn bản giấy do cơ quan có thẩm quyền cấp.

Điều kiện thứ ba để di chúc được hợp pháp là di chúc phải đáp ứng được hình thức của di chúc mà pháp luật quy định. Tại điều 627 Bộ luật dân sự 2015 quy định 02 hình thức của di chúc bao gồm: di chúc được lập thành văn bản và di chúc miệng.

Điều kiện thứ tư để di chúc hợp pháp thì nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.

Một số cá nhân nghĩ rằng, di chúc không hợp lệ nếu người lập di chúc lập bằng giấy viết tay và không có người làm chứng. Tuy nhiên căn cứ vào những điều kiện đã được phân tích ở trên, trong trường hợp di chúc được lập bằng văn bản không có người làm chứng vẫn hợp lệ nếu cá nhân đó đáp ứng đủ 04 điều kiện được đề cập nêu trên.

Ngoài ra đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý và di chúc này phải được lập thành văn bản; Đối với người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ di chúc của họ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

Hoàn cảnh thực tế cũng là yếu tố quyết định đến hình thức của di chúc. Trong một số điều kiện không cho phép cá nhân đó có thể công chứng hoặc chứng thực di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã. Vì vậy đối với những trường hợp dưới đây, di chúc bằng văn bản có giá trị pháp lý như di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực:

  • Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực.
  • Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó.
  • Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó.
  • Di chúc của người đang làm khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị.
  • Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó.
  • Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.

Trường hợp không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Ngoài 04 điều kiện để di chúc được hợp pháp, thì di chúc miệng còn phải thể hiện ý chí cuối cùng của người di chúc miệng trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ; Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.