NHỮNG NGƯỜI CÙNG GIỚI TÍNH KHÔNG ĐƯỢC ĐĂNG KÝ KẾT HÔN?

Hôn nhân đồng giới đang là vấn đề khá nhạy cảm, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Hôn nhân đồng giới hay hôn nhân đồng tính là hôn nhân giữa hai người cùng giới tính sinh học, đồng cảm, chia sẻ với nhau về những vấn đề trong cuộc sống.

Theo khoản 5, Điều 10, Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) năm 2000 (đã hết hiệu lực), việc kết hôn giữa những người cùng giới tính là hành vi bị cấm. Người thực hiện hành vi có thể bị phạt tiền từ 100.000 đến 500.000 đồng theo điểm e, khoản 1, Điều 8, Nghị định 87/2001 của Chính phủ ngày 21 tháng 11 năm 2001 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

Hiện nay, căn cứ vào khoản 2, Điều 8, Luật HN&GĐ 2014 (đang có hiệu lực) quy định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Không chỉ vậy, khoản 5 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014 giải thích: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Do đó, những người cùng giới không thể thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, theo Nghị định 82/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã đang có hiệu lực, những người đồng giới kết hôn với nhau không còn bị phạt.

Như vậy, so với quy định trước, Nhà nước không còn cấm những người có cùng giới tính kết hôn mà chỉ “không thừa nhận” mối quan hệ hôn nhân này. Tức là, những người đồng tính có thể tổ chức đám cưới, sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không được thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Khi đó, hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính sẽ không tồn tại và không được pháp luật thừa nhận nên không phát sinh những vấn đề pháp lý liên quan đến quan hệ vợ chồng. Cụ thể:

Về quan hệ nhân thân: Giữa hai người đồng tính không ràng buộc về mặt pháp lý, không được cấp đăng ký kết hôn, không được công nhận là vợ, chồng hợp pháp. Từ đó, các vấn đề về con, cấp dưỡng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng… không tồn tại;

Về quan hệ tài sản: Vì không có quan hệ vợ chồng nên không áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng được quy định tại Luật HN&GĐ 2014. Nếu có phát sinh tranh chấp, tài sản sẽ không được chia theo nguyên tắc chung về tài sản chung của vợ chồng.

Nhiều người vẫn thường đặt câu hỏi là đến khi nào thì hôn nhân cùng giới được công nhận ở Việt Nam. Theo thống kê đến năm 2020, trong số 220 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã có 29 quốc gia/vùng lãnh thổ chính thức công nhận hôn nhân đồng giới. Xã hội nhìn nhận vấn đề này theo hai chiều hướng là ủng hộ và phản đối. Ở Việt Nam, những người ủng hộ hôn nhân đồng giới cho rằng vấn đề này liên quan đến quyền con người, thể hiện tính nhân văn, giảm kỳ thị và phân biệt đối xử trong xã hội. Nhưng đối với những người phản đối hôn nhân đồng giới thì cho đây là việc vi phạm thuần phong mỹ tục, truyền thống gia đình Việt Nam, không phù hợp với quy luật sinh học và không đảm bảo chức năng duy trì nòi giống. Dựa vào những quy định của Luật HN&GĐ thay đổi từ năm 2000 đến năm 2014, nhận thức của xã hội Việt Nam phần nào đã có sự thay đổi.

Việc cho phép và công nhận hôn nhân cùng giới không chỉ đơn giản là cho phép về mặt thủ tục pháp lý, mà nó còn có thể dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực trong xã hội mà pháp luật chưa lường được hết. Dù như thế nào thì các quy định pháp luật được ban hành đều dựa trên nguyên tắc là các văn bản pháp luật khi được ban hành phải đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi, phải vừa xuất phát từ thực tế khách quan và vừa xuất phát từ bản chất.

0 0 votes
Article Rating